TRANG CHỦ

CHỤP HÌNH HQ

SINH CON

CHƠI GAME

 
Danh mục chính
Sức khoẻ tre em Sức khoẻ phụ nữ Sức khoẻ người cao tuổi Sức khoẻ du lịch Sức khoẻ tình dục Pháp y Dinh dưỡng Thẩm mỹ Thuốc men Cấp cứu Kỹ thuật y khoa Cao huyết áp Vaccin Vitamin Bệnh thường gặp Khớp Huyết học Răng hàm mặt Tai mũi họng Da liễu AIDS Bệnh mắt Nhiễm Nội khoa Thần kinh Ung bứu Hỏi đáp sức khoẻ
Chuyên khoa
Tai - Mũi - Họng Cơ - Xương - Khớp Tim Mạch Bệnh Ngoài Da Tiêu Hóa Tiết Niệu Nội Tiết Bệnh Truyền Nhiễm Béo Phì Thần Kinh Ung Bướu HIV - AIDS Nhãn Khoa Hô Hấp Sản Phụ Khoa Bệnh Nam Khoa
Danh mục tổng hợp
Y HỌC Y DƯỢC SỨC KHỎE ĐỜI SỐNG NHA KHOA LÀM ĐẸP TIN DINH DƯỠNG
THAM KHẢO Y KHOA
Tra cứu thuốc Tây Tra cứu thuốc Đông y Từ điển y khoa Soi, chụp, xét nghiệm Test IQ Trắc nghiệm trực tuyến
TRA CỨU THUỐC TÂY
.:Intron A:. - ybacsi.com 
Intron A

Hãng sản xuất: Scherlng-Plough Cho Zuellig Pharma

Thành phần

Cho 1 lọ

Interferon alfa-2b tái tổ hợp ............. 3 MIU

(Albumine người)

ống dung môi : Nước cất pha tiêm

cho 1 lọ

Interferon alfa-2b tái tổ hợp ............. 5 MIU

(Albumine người)

ống dung môi : Nước cất pha tiêm

Chỉ định

Dùng đường toàn thân : điều tri bệnh viêm gan siêu vi B mãn tính, viêm gan C/không A, không B mãn tính , viêm gan delta mãn tính, u nhú thanh quản, bệnh bạch cầu thể tế bào tóc, bệnh bạch cầu mãn dòng tủy, bệnh tăng tiểu cầu đi kèm với bệnh bạch cầu mãn dòng tủy, bệnh đa u tủy, u bạch huyết không Hodgkin, Sarcome Kaposi ở những bệnh nhân bị AIDS, carcinome tế bào thận, ung thư buồng trứng, khối u carcinoide di căn (khôi u nội tiết tụy) và u sắc tố ác tính.

Dùng tiêm trong bàng quang : ung thư bề mặt bang quang.

Dùng tiêm trong sang thương : bệnh condyloma sùi mồng gà, carcinome tế bào đáy , u bạch huyết bào T ở da và chứng dày sừng quang hóa.

Cách sử dụng

Intron A có thể được sử dụng bằng cách dùng dạng chai vô trùng hay ống tiêm nhựa.

Nên kiểm soát thuốc bằng mắt thường về độ đục và tính không màu trước khi tiêm.

Đối với phác đồ duy trì dùng đường tiêm dưới da, bệnh nhân có thê tự tiêm theo hướng dẫn của bác sĩ.

Bệnh nhân có số lượng tiểu cầu nhỏ hơn 50.OOO/mm3 không nên tiêm bắp Intron A mà nên dùng theo đường tiêm dưới da.

Nếu tác dụng phụ xuất hiện trong khi trị liệu với thuốc tiêm Intron A trong bất cứ chỉ định nào, nên điều chỉnh liều dùng (giảm 50%) hay phải tạm thời ngưng điều trị cho đến khi các tác dụng phụ bớt đi. Nếu biểu hiện không dung nạp xuất hiện dai dẳng hoặc tái đi tái lại dù đã điều chỉnh liều hay bệnh lại tiến triển thêm, nên ngưng trị liệu bằng thuốc tiêm Intron A.

Viêm gan siêu vi B mạn tính : liều khuyến cáo là 30-35 MIU/tuần tiêm dưới da hay tiêm bắp hoặc 5 MIU/ngày hay 10 MIU. 3 lần/tuần, trong vòng 16 tuần. Nói khác đi, liều tác dụng thấp nhất của thuốc tiêm Intron A là 3 MIU, 3 lần/tuần, tiêm dưới da hay tiêm bắp. Nhĩmg bệnh nhân có HBV-DNA trong máu trước khi điều trị thấp (nghĩa là dưới 100 pcg) có đáp ứng tốt nhất với tri liệu Intron A và hầu hết các đáp ứng là giảm 50%HBV-DNA trong vòng 1 tháng. Bệnh nhân có nguy cơ cao (HBV-DNA > 100 mcg) hay những bệnh nhân không đáp ứng với tri liệu trong vòng 1 tháng, có thể được điêu tri với liều lượng 5MIU, 3 lần/tuần hoặc 5 MIU mỗi ngày. Liều lượng có thể được điều chỉnh tùy theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân . Khi có đáp ứng, chế độ điều trị được chọn lựa phải duy trì tối đa 4 tháng, trừ khi có sự không dung nạp trầm trọng .

Viêm gan siêu vi C/NANB mạn tính : liều lượng đề nghị là tiêm dưới da 3 MIU, 3 lần/tuần, trong 18 tháng. Hầu hết những bệnh nhân có đáp ứng cho thấy có sự cải thiện mức ALT trong 1 2 tuần .

Một vài bênh nhân không đáp ứng với liều 3 MIU có thể đáp ứng với liều cao hơn là 10 MIU, 3 1ần/tuần. Những bệnh nhân tái phát sau khi tri liệu bằng Intron A có thể đặc tái điều tri với liều tương tự với lần đáp ứng trước.

Viêm gan siêu vi delta mạn tính : Intron A có thể tiêm dưới da với liều ban đầu 5 MIU/ m2 da , 3lần/tuần , ít nhất từ 3 -4 tháng dù rằng điều tri kéo dài hơn có thể được chỉ đinh. Liều lượng có thể được điều chỉnh theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân.

Bệnh u nhú thanh quản : liều lượng khuyến cáo của Intron A là tiêm dưới da 3 MIU/m2 da, 3 lần/tuần (cách ngày), bắt đầu sau phẫu thuật (bằng tia laser) lấy đi mô bướu. Liều lượng có thể điều chỉnh theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân có thể cần hơn 6 tuần trị liệu mới thấy đáp ứng

Ung thư máu tế bào tóc : liều lượng đề nghị của Intron A là tiêm dưới da hay tiêm bắp 2 MIU/m2 da, 3 1ần/tuần (cách ngày). Liều lượng có thể điều chỉnh lại tùy theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. Những bệnh nhân không cắt lách cũng đáp ứng tương tự bệnh nhân cắt lách với những nhu câu về truyền máu giảm dần giống nhau. Sự bình thường hóa một hay nhiều thông số huyết học thường bắt đầu trong vòng 2 tháng điều trị. Sự cải thiện tất cả ba thông số (lượng bạch cầu hạt, lượng tiểu cầu và mức hémoglobine) có thể cần đến 6 tháng hay hơn nữa. Trước khi bắt đầu điều tri, cần làm các xét nghiệm để đánh giá lượng hémoglobine, tiểu cầu, bạch cầu hạt và các tế bào tóc ở máu ngoại biên và các tế bào tóc tủy xương. Các thông số này phải được kiểm tra định kỳ trong suốt quá trình điều trị để xác định có hay không có đát) ứng với điều trị. Nếu có đáp ứng" nên duy trì điêu trị cho đến khi không cải thiện hơn nữa và các thông số trên được ổn đinh trong khoảng 3 tháng. Nên ngưng thuốc nếu không có đáp ứng trong vòng 6 tháng. Phác đồ điều trị này phải được duy tn trừ khi bệnh tiến triển nhanh hoặc có sự không dung nạp tram trọng. Nếu việc điều trị với Intron A bị gián đoạn, nên lưu ý rằng hơn 90% bệnh nhân có đáp ứng lại với việc tái điêu tri bằng Intron A.

Ung thư máu dòng tủy mạn tính : liều lượng đề nghị của Intron A là tiêm dưới da 4-5 MIU/m2 mỗi ngày. Để kiểm soát lượng bạch cầu, có thể  cần liều duy trì thay đổi từ 0,5-10 MIU/m2. Khi lượng bạch cầu đã được kiểm soát, có thể tiêm 3 lần/tuần (cách ngày). Các nghiên cứu đã cho thấy bệnh nhân ở giai đoạn bệnh mãn tính có đáp ứng với Intron A tốt hơn. Điều trị nên bắt đâu sớm ngay sau chẩn đoán và duy trì cho đến khi có đáp ứng hoàn toàn về huyết học hay ít nhất 18 tháng.

Nói chung, các bệnh nhân đáp ứng thường có đáp ứng vê huyết học trong vòng 2- 3 tháng điều tri. Những bệnh nhân này phải được tiếp tục điều tri cho đến khi có đáp ứng hoàn toàn về huyết học, như đã được đinh nghĩa là có lòng bạch cầu vào khoảng 3-4 x 109/l

Tất cả các bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn về huyết học phải độc điều trị tiếp tục để đạt được đáp ứng di truyền tế bào học, mà đáp ứng này ở một số bệnh nhân chỉ có thể đạt được sau 2 năm điều tri với bệnh nhân lúc chẩn đoán có lượng bạch cầu cao hơn 50 x109/l bác sĩ có thể chọn lựa để bắt đầu điều tri với liều chuẩn hydroxyurea và sau đó thay thế bằng Intron A khi bạch cầu giảm dưới 50 x 109/ị. Những bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư máu dòng tủy mãn tính với Ph dương tính cũng nên được điều tri Phối hợp In-tron A và hydroxyurea. Intron A được bắt đầu dùng với liều thay đổi từ 6-10 MIU mỗi ngày tiêm dưới da. Hydroxyurea được thêm vào với liều 1.0-1.5g, 2 lần/ngày nếu lượng bạch cầu ban đầu hơn 10 x109/l và được tiếp tục Cho đến khi lượng bạch cầu xuống dưới 10 x 109/1. sau đó, ngưng hydroxyurea và chỉnh liều Intron A lên hay xuồng để duy trì bạch cầu đa nhân trung tính giữa 1- 5 x 109/1 và tiểu cầu lớn hơn 75 x 109/l

Bệnh tăng tiểu cầu đi kèm theo ung thư máu dòng tuỳ mãn tính : liều khuyến cáo giống như với liều điều tri bệnh ung thư máu dòng tủy mãn tính. Việc điều chỉnh liều áp dụng để kiểm soát lượng bạch cầu cũng tỏ ra thích hợp để kiểm soát lượng tiểu cầu. Dựa trên kinh nghiệm lâm sàng tích tụ cho đến nay, khoảng 1/4 (26%) bệnh nhân được chẩn đoán bạch cầu tủy mạn tính đồng thời có bệnh tăng tiểu cầu với lượng tiểu cầu trên 500 x109/l. Lượng tiểu cầu đã được kiểm soát trên tất cả các bệnh nhân sau 2 tháng điều tri.

Lượng tiểu cầu được kiểm tra mỗi tháng không có lần nào dưới 80 x 109/l.

Bệnh đa u tủy :

Điều tri tấn công : thêm vào cùng với hóa trị liệu tấn công, Intron A có thể được tiêm dưới da với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần (cách ngày) trong suốt giai đoạn tấn công.

Điều tri duy trì : ở những bệnh nhân trong giai đoạn ổn đinh sau đợt hóa tri liệu tấn công, có thể dùng duy nhất Intron A với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần, tiêm dưới da.

Điều tri tái phát hay bệnh kháng tri : ở bệnh nhân có bệnh tái phát sau hóa trị liệu hay kháng với hóa trị, có thể chỉ cần tiêm Intron A đơn thuần với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần.

U lympho bào không Hodgkin : bổ sung thêm trong hóa tri liệu, có thể tiêm Intron A dưới da với liều 5 MIU, 3 lần/tuần (cách ngày). ung thư Kaposi do AIDS : liều thích hợp vẫn chưa được xác đinh. Có hiệu quả khi tiêm dưới da lay tiêm bắt Intron A với liêu 30 MIU/m2, 3-5 lần/tuần. Liều thấp hơn (10-12 MIU/m2/ngày) cũng được áp dụng mà không ghi nhận sự giảm rõ rệt hiệu quả điều tri .

Một cách khác , Intron A có thể dùng tiêm truyền tĩnh mạch với liều 50 MIU/m2/ngày trong 30 phút trong 5 ngày liên tiếp, sau đó ngưng ít nhất 9 ngày ngày rồi mới bắt đầu điều trị liệu 5 ngày kế tiếp.

Khi bệnh ổn định hoặc điều trị có đáp ứng, nên tiếp tục trị liệu cho đến khi không có biểu hiện của bướu hoặc cho đến khi cần thiết ngưng thuốc do có dấn hiệu của nhiễm trùng cơ hội hay tác dụng phụ trầm trọng.

Kết hợp với zidovudine (AZT) : trong các nghiên cứu lâm sàng, những bệnh nhân AIDS cùng với Sarcome Kaposi được cho dùng Intron A kết hợp với AZT. Đối với hầu hết bệnh nhân, phác đồ điều trị sau được dung nạp tốt : Intron A 5- 10 MIU/m2 mỗi ngày; A100 mg mỗi 4 giờ. Triệu chứng độc tính để giới hạn liều là giảm bạch cầu trung tính. Intron A có thể được bắt đầu với liều 3-5 MIU/m2 mỗi ngày. Sau 2-4 tuần, tùy theo sự dung nạp của bệnh nhân, có thể tăng liều Intron A từ 5 đến 15 MIU/m2 mỗi ngày ; AZT có thể tăng đến 200 mg mỗi 4 giờ. Liêu lượng phải được điều chỉnh trên từng cá nhân, dựa vào sự đáp ứng tri liệu và sự dung nạp thuốc của mỗi người bệnh.

Ung thư tế bào thận : trong khi liều thích hợp vẫn chưa được xác đinh, liều khuyến cáo trong giai đoạn tấn công là 10 MIU/m2/ngày (tối đa đến 18 MIU/ngày), tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Liều lượng có thể được điều chinh tùy theo tuổi tác và tình trạng của bệnh nhân Liều này có thể đạt đến bằng cách tăng từ từ theo từng nấc 3 MIU/m2/ngày trong khoảng thời gian 3 ngày (3 MIU/m2/ngày cho 3 ngày, 9MIU/m2/ngày cho 3 ngày, rồi 18 MIU/ngày) Liều tối đa được khuyến cáo là 36 MIU/ngày, tùy vào sự dung nạp của bệnh nhân. Thời gian điều trị tấn công kéo dài ít nhất là 3 tháng để có thể quyết đinh tiếp tục hay ngưng tri liệu Nếu bệnh nhân có bằng chứng tiến triển bệnh, phải nglmg ngay điều trị tấn công. Đối với tri liệu duy trì, có thể dùng liều tương tự với kéo dài khoảng cách dùng thành 3 lần mỗi tuần trong ít nhất 6 tháng.

Ung thu buồng trứng : liều khuyến cáo cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư buồng trứng dai dẳng, di căn đã giảm bớt là 50 MIU tiêm vào phúc mạc nếu chỉ dùng duy nhất một loại thuốc. Pha thuốc tiêm Intron A trong 250 ml dung dich muối, thêm vào 1750 ml dung dịch thẩm phân và tiêm phúc mạc qua catheter. Nên thực hiện tiêm truyền nhỏ giọt trong khoảng một giờ. Có thể lặp lại cách thức này mỗi tuân, trong ít nhất 16 tuần trước khi bệnh nhân được đánh giá lại tình trạng bệnh

Bướu di căn dạng carcinome (bướu tuyến tụy nội kết) : hoạt tính tri liệu của Intron A đã được thấy rõ ràng ở bệnh nhân bướu di căn dạng carcinoma và hội chứng sau khi dùng thuốc tiêm dưới da 3- MIU/m2 mỗi ngày hay cách ngày, và tiêm dưới da 3 lần một tuần bắt đầu với liều 2 MIU/m2 và tăng dần đến 3 , 5 , 7 và 10 MIU/m2 với các khoảng cách 2 tuần tùy theo độc tính. Trong khi sự thoái hóa bướu nguyên phát không xuất hiện, 20% bệnh nhân giảm 50% ở nước tiểu trong vòng 24 giờ [mức 5 -hydroxyindole acetic acid (5-HIAA)] . những bệnh nhân dùng Intron A trong 6 tháng (2 MIU/m2/ngày, tiêm dưới da trong vòng 3 ngày lầu sau đó tăng đến 5 MIUI/m2, tiêm dưới da 3 lần/tuần) cho đáp ứng khách quan khoảng 50%trong điều tri kéo dài . Nhân bệnh nhân bướu ác tính dạng carcinome có thể xuất hiện bệnh tự miễn trong thời gian tri liệu Intron A, đặc biệt khi có tự kháng thể. Vì vậy, phải kiểm soát chặt chẽ bệnh nhân về các triệu chứng thực thể và triệu chứng cơ năng của bệnh nhân miễn trong suốt quá trình điều trị

Bệnh u sắc tố ác tính : được dùng như một điều trị hỗ trợ cho phẫu thuật" Intron A được tiêm tĩnh mạch với liêu 20 MIU/m2, 5 lần mỗi tuần trong vòng 4 tuần, sau đó là 10 MIU/m2, tiêm dưới da 3 lần mỗi tuần trong vòng 48 tuần . Khi phối hợp với hóa tri liệu cho bệnh nhân u sắc tố di căn,  Intron A được dùng tiêm tĩnh mạch với liều 15 MIU/m2, 5 lần mỗi tuần trong 3 tuần, sau đó tiêm dưới da 10 MIU/m2, 3 lần mỗi tuần cho đến khi có  dấu hiệu cải thiện hay khi bác sĩ cảm thấy không còn cần thiết ; bệnh nhân đuốc điều tri lâu hơn 2 năm.

Ung thư bề mặt bàng quang : đối với ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp, liều khuyến cáo là 30-50 MIU mỗi tuân tiêm nhỏ giọt vào bàng quang trong khoảng 8- 12 tuần ; đối với ung thư tại chỗ, liều khuyến cáo là 60-100 MIU, tiêm nhỏ giọt mỗi tuần trong vòng 12 tuần.

Cách thức tiêm truyền nhỏ giọt Intron A đã pha vào trong bàng quang : bệnh nhân nên nhin uống trong 8 giờ trước khi tiêm truyền để giúp duy trì nồng độ thuốc tối ưu và tránh sự bài tiết quá sớm. Bàng quang nên trống trước khi tiêm truyền. Dung dich được tiêm truyền từ bơm tiêm vào bàng quang qua catheter tiệt trừng. Bệnh nhân phải giữ dung dich trong bàng quang trong 2 giờ. Trong quá trình điều tri, bệnh nhân phải th ay đổi tư thê mỗi 15 phút để bảo đảm toàn bộ bề mặt bàng quang được tiếp xúc . Sau 2 giờ, nên khuyên bệnh nhân đi hếu đê bài tiết hoàn toàn .

Condylomata Acuminata (condilom sùi, bệnh mồng gà) : các sang thương được tiêm thuốc trước tiên phải được lau sạch sẽ bằng gạc tẩm cồn vô trùng. Tiêm yào trung tâm sang thương bằng một kim nhỏ (số 30) . Tiêm 0,1 ml dung dich pha sẵn chứa 1 MIU Intron A vào sang thương 3 lần một tuần và cách ngày trong vòng 3 tuần . Có thể cùng lúc điều tri 5 sang thương. Liều tổng cộng tối đa cho việc tiêm thuốc mỗi tuần không được vượt quá 15 MIU. Sang thương rộng có thể đuợc điều trị bằng cách tiêm nhiều mũi (tối đa 5 MIU Intron A tổng cộng trong một ngày) hay bằng cách tiêm liên tục lên những vùng khác nhau của sang thương.

Tái điều trị : sự cải thiện thường xuất hiện 4-8 tuần sau khi bắt đầu đợt điều tri đầu tiên. Nếu kết quả lần tri liệu này chưa thỏa đáng, nên trị liệu đợt thứ nhì với cùng phác đồ tương tự nếu các triệu chứng chức năng và thực thể hay các thay đổi về các thông số xét nghiệm không ngăn cản việc tái điều tli

Điều trị các sang thương phụ : ngay sau khi kết thúc 3 tuần ớiều tri đầu tiên, có thể bắt đầu đợt điều tri thứ hai với phác đồ điều trị tương tự để điều trị tối đa 5 sang thương phụ ở bệnh nhân có từ 6-10 condylom. Bệnh nhân có hơn 10 condylom có thể được điều tri liên tiếp phụ thuộc vào số lượng condylom. Trong các nghiên cứu lâm sàng, những bệnh nhân có condylom cũng được điều trị với Intron A tiêm vào trong sang thương với liều1.5  MIU/sang thương sau đó bôi tại chỗ podophylline 25 % . Việc điều tri này được thực hiện mỗi tuần một lần, trong vòng 3 tuần.

Ung thư tế bào nền : sang thuơng trước hết phải được làm sạch bằng gạc tẩm cồn vô trùng. Tiêm vào phần nền và phân chất của sang thương bằng một kim nhỏ (số 30) và 1 ống tiêm 1 ml. Với những sang thương có diện tích ban đầu dưới 2 m2, tiêm 0,15 ml dung dich chứa 1,5 MIU In-tron A vào sang thương 3 lần một tuần cách ngày , trong vòng 3 tuần . Liều tổng cộng nên đạt đến 13,5 MIU. Sang thương tế bào nền có diện tích rộng và nốt loét (sang thương rộng 2-10 cm2) nên được điều trị 3 lần một tuần trong vòng 3 tuần với 0,5 MIU/cm2 diện tích ban đầu của sang thương (liều tối thiểu là 1,5 MIU). Mỗi sang thương nên được điều tri một lần. Sự cải thiện tình trạng lâm sàng (hình dáng kích thước, ban đỏ. . . ) của sang thương đã được điều tri là chỉ định đáng tin cậy cho việc điều tri bằng sinh thiết.  Do đó tình trạng lâm sàng phải được kiềm tra đinh kỳ sau khi kết thúc điều tri. Sự cải thiện triệu chứng thực thể của bệnh thường xuất hiện khoảng 8 tuần sau khi bắt đầu điều tri. Nếu không thấy cải thiện lâm sàng sau 2-3 tháng, nên dùng phẫu thuật cắt bỏ sang thương.

U bạch huyết tế bào T ở da (u sùi dạng nấm) : ở bệnh nhân có mảng u sùi dạng nấm, Intron A gây thuyên giảm lâm sàng khi tiêm vào trong vết thương với liều lượng 1-2 MIU/ vị trí tiêm 3 lần mỗi tuần trong vòng 4 tuần liên tiếp. Trước hết, sang thương phải được lau sạch bằng gạc tẩm cồn tiệt trùng ; kim được tiêm theo một góc gần như song song với da. Tiêm vào biểu mô bề mặt dưới mảng sang thương với một kim nhỏ (số 30) và ống tiêm 1 ml. Cần chú ý không được đưa quá sâu dưới sang thương và can tránh tiêm dưới da. Nên lặp lại liệu pháp này 3 lần một tuần, trong vòng 4 tuần với tổng so 12 mũi tiêm vào mỗi sang thương. Trong những thử nghiệm lâm sàng, cải thiện ngay tại vi trí sang thương được ghi nhận duy trì vài tuần sau khi kết thúc điều trị bằng cách tiêm thẳng vào trong sang thương với liều tổng cộng là 2 MIU/lần thực hiện .

Dày sừng quang hóa : sang thương có thể được điều tối với 500 000 (5 x105 IU) Intron A trong 0,1 ml dung dich, tiêm vào sang thương với 1 kim nhỏ (số 25-30) . Kim nên đâm vào phần nền của sang thương với một góc gân như song song với mặt phẳng da. Cần phải chú ý không đưa vào dưới sang thương quá sâu ; cần nên tránh tiêm dưới da vì khu vực này ở dưới nền của sang thương. Mũi tiêm bề mặt có thể đưa đến chỗ rò rỉ với sự thâm nhiễm của duy nhất lớp sừng hoá. Nên lặp lại liệu pháp này 3 lần mỗi tuần trong vòng 3 tuần với tống số 9 mũi tiêm vào mỗi chỗ dày sừng quang hóa/lần thực hiện với liều tổng cộng là 1,5 MIU/lần thực hiện. Nên chờ khoảng bốn tuần từ lúc kết thúc đợt tri liệu trước đó cho đến khi có kết quả lâm sàng rõ rệt.

Sang thương có hình thái học hay triệu chứng học lâm sàng bất thường không nên điều tri bằng Intron A. .

Pha chế bột đông khô Intron A để tiêm hay tiêm thẳng vào sang thương : lọ bột chứa liều duy nhất phải được pha với 1 ml nước cất pha tiêm. Cũng có thể dùng nước định khuẩn pha tiêm chứa 0,9% rượu benzylique. Lọ chứa nhiều liều phải được pha với nước định khuẩn pha tiêm chứa ọ,9 % rượu benzylique (5 ml cho lọ 25 MIU) . Để tiêm vào sang thương, pha một lọ 10 MIU Intron A với 1 ml dung môi sẽ cho một dung dlch đăng trương với nồng độ mong muốn là 1 MIU/0.1ml. Pha thuốc với những lọ có kích cỡ khác nhau để đạt được liều lượng khuyến cáo cho một dung dich nhược hay đẳng trương. Dùng bơm và kim tiêm tiệt trùng, tiêm một lượng thích hợp dung môi vào lọ Intron A.

Lắc nhẹ để hòa tan bột hoàn toàn. Sau đó. liều luợng thích hợp sẽ được rút ra bằng bơm tiêm tiệt trùng và tiêm dưới da, bắp thịt hay vào sang thương như được chỉ đinh.

Pha chế dung dịch Intron A để tiêm truyền tĩnh  mạch : (xem Liều lượng và cách dùng). Không được tiêm truyền đồng thời thuốc khác cùng với  intron A.

Bệnh Sarcoma Kaposi : phác đồ liều lượng thay đổi: nếu có thể, nên pha dich tiêm truyền ngay trước khi dùng . Bột đông khô Intron A nên được pha bằng cách thêm 1 ml nước cất pha tiêm vào lọ. Sau đó rút ra lượng Interferon được tính toán trước cho 1 liều thích hợp và cho vào 50 ml dung dịch muối vô trùng. Trước khi tiêm mỗi liều In-tron A;bệnh nhân cần có sẵn một kim bướm số 21 dùng tiêm tỉnh mạch (hay cỡ kim tiêm tĩnh mạch h khác được cung cấp). Cần bắt đầu tiêm truyền dung dich muối đẳng trương (tốc độ 200mg/giờ ) trước khi cho thuốc vào. Nên ngưng tiêm truyền dung dich muối đẳng trương ngay trước khi bắt đầu cho Intron A vàn. Dung dich Intron A trong 50 ml dung dich muối tiệt trùng đã pha sẵn nên được tiêm truyền trong khoảng thời gian là 30 phút. Sau khi truyền thuốc xong phải tiếp tục truyền dung dịch muối bình thường trong vòng 10 phút với tốc độ là 200 ml/giờ như ban đầu.

Bệnh u sắc tố ác tính : Bột đông khô Intron A nên được pha bằng cách thêm 1 ml nước cất pha tiêm vào lọ. Lượng Interferon được tính trước cho một liều thích hợp sau đó đựơc rút ra và thêm vào trong 100 ml dung dich muối đẳng trương tiệt trùng và tiêm truyền trong khoảng 20 phút. Không được truyền kết hợp Intron A với một thuốc khác.

Pha Intron A để tiêm vào bàng quang : cho liều khuyến cáo là 100 MIU Intron A, một số thích hợp các lọ 5, 10, 25, 30 hay 50 MIU để làm đủ 100MIU được pha với nước cất pha tiêm. Không pha Intron A với nước đinh khuẩn pha tiêm để tiêm truyền vào bàng quang. Thêm vào mỗi lọ 1ml nước cất pha tiêm. Lắc nhẹ để hòa tan bột hòan toàn đê được một dung dich trong suốt. Gộp các dung dịch pha lại bằng cách hút vào một ống bơm tiêm 30 ml để được liều tổng cộng 100MIU Intron A. Thêm một lượng vừa đủ nước cất pha tiêm vào bơm tiêm để có một thể tích là 30 ml dung dich. Để tiêm nhỏ giọt vào bàng quang, bơm tiêm phải được nối vào một catheter tiệt trùng. Cần quan sát dung dịch bằng mắt thường để kiểm tra các tiểu phân lơ lửng và tính không màu trước khi đưa vào cơ thế. Dung dịch pha phải trong suốt và không màu đến vàng nhạt. Mặc dù dung dich pha Intron A với nước cất pha tiêm có thể ổn định trong 24 giờ ở nhiệt độ 2-30oc , nên dùng dung dich tiêm vào bàng quang trong vòng 4 giờ sau khi pha.

Lưu ý khi sử dụng

Không tiêm truyền đồng thời các thuốc khác với lntron A.

Tương hợp với các dung dich tiêm tĩnh mạch khác : trong dung dich muối đẳng trương thông thường, nồng độ Intron A từ 50.000-1 .000.000 IU/ml có tính ổn định và tương hợp với các dung dịch được kể phía dưới, khi giữ trong tủ lạnh trên 24 giờ hoặc để ở nhiệt độ phòng trong chai thủy tinh : dung dlch tiêm Ringer, dung dich tiêm Lactate Ringer, dung dich tiêm acide am me, dung dich tiêm Na tri bicarbonate 5 % .

Hỗn hợp này được duy trì ổn đinh trong tiêm truyền kéo dài 6 giờ qua bộ truyền dịch.

Tính tương hợp của Intron A ở nồng độ tối thiểu 105 IU/ml trong dung dtch muôi đẳng trương thông thường đã được đánh giá khi dùng qua thiều bộ truyền dịch khác nhau.

Kết quả tóm lược như sau : tính tương hợp với các bộ tiêm đường tĩnh mạch.

Có thể tương hợp : 2CO01 (Travenol), VI 400 (McGaw), Venoser 78(Abbott), Ultipor Blood, bộ tiêm thuốc và lọc dịch truyền (Pall), Intrafix Air(B. Braun), bộ tiêm STK lại L76 (Aesca), Perfu Pal (Dubermarid Vitrum), Vacoser V34 (Baxter), Vacoser V2400 (Pharmaseal), Hiplex- Venosteril, Venoser( Abbott), Vacoset V-736 (McGaw), Vacoset V-717U ( McGaw)

Không tuơng hợp : Versaset V13 (Rivero), Addit IV V1444 (Mcgaw), Continue Flow (Travenol).

Tính ổn định: sau khi pha với 1ml nước pha tiêm kìm khuẩn chứa 0,9% cồn benzyl, dung dich sẽ đuợc ổn định tối thiểu 1 tháng khi được bản quản ở 2-8oc hoặc trong 2 tuần khi bảo quản ở nhiệt độ pbòng (15-30oC).

Dung dich sau khi pha trong suốt và không màu hoặc có màu vàng nhạt.

Khi pha với nước cất pha tiêm, Intron A có thể được bảo quản đông lạnh (dưới - 10oc) trong ống bơm tiêm polypmpylène trong 28 ngày . Dung dich pha ổn đinh trong suốt thời gian này khi được giải đông lạnh trở lại tối đa 2 lần

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

Intron A đã cho thấy có tác động gây sẩy thai trên Macca mulatta (khỉ rhesus) với liều gấp 90 và 1 80 lần so với liều tiêm bắp hay tiêm dưới da là 2 MIU/m2. Mặc đù sự sẩy thai được quan sát trên tất cả các nhóm liều (7, 5 , 15 hay 30 MIU/kg), tác dụng này chỉ có ý nghĩa thống kê đối với các kiểm soát ở nhóm liều trung bình và liều cao (tương ứng với gấp 90 và 180 lần liều khuyến cáo tiêm bắp hay liều tiêm dưới da 2 MIU/m2). Không có nghiên cứu đầy đủ và có kiểm chứng chặt chẽ trên phụ nữ có thai . Chỉ nên dùng Intron  A trong lúc có thai nếu lợi ích trị liệu cao hơn nguy cơ có thể gây ra cho bào thai. Không nên tiêm Intron A vào bàng quang cho phụ nữ có thai.

Việc bài tiết các thành phần của thuốc qua sữa mẹ chưa được xác định. Do Intron A có thể gây tác dụng ngoại ý cho trẻ bú sữa mẹ, quyết định ngưng cho bú hay ngưng điều trị phụ thuộc vào tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.

Thận trọng lúc dùng

Các phản ứng quá mẫn cấp tính trầm trọng (như nổi mề đay, phù mạch, co thắt phế quản, phản vệ) với Intron A rất hiếm gặp trong quá trình tri liệu với Intron A. Nếu có biểu hiện phản ứng như thế thì phải ngưng thuốc và áp dụng các biện pháp thích hợp ngay lập tức. Chứng nổi ban thoáng qua không cần thiết phải ngưng trị liệu .

Nên cẩn thận khi dùng Intron A cho bệnh nhân mắc những chứng bệnh làm suy nhược cơ thể như có tiền sử bệnh phổi (như bệnh phổi tăc nghẽn mãn tính) hay tiêu đường có khuynh hướng nhiễm acide-cétone. Cũng nên cẩn thận khi dùng cho bệnh nhân có rối loạn đông máu (như chứng viêm tĩnh mạch huyết khối, nghẽn mạch phổi) hay suy tủy trầm trọng.

Sử dụng thuốc tiêm Intron A phối hợp với các tác nhân hóa trị liệu khác có thể làm gia tăng nguy cơ ngộ độc (về mức độ và thời gian) , có thể gây tử vong hay đe dọa tính mạng do tác động của thuốc dùng đơng thời . Các tác dụng ngoại ý thường thây nhất có khả năng gây tử vong hay đe dọa đến tính mạng bao gôm viêm niêm mạc, tiêu chảy, giảm bạch cầu trung tính, suy thận và rối loạn chất điện giải . Do nguy cơ gia tăng độc tính, cần điều chỉnh liều cẩn thận đối với Intron A và cả các tác nhân hóa tri liệu dùng đồng thời .

Vì sốt có thể gặp trong hội chứng giả cúm khi điều tri bằng Interferon, ta nên loại trừ các nguyên nhân gây sốt dai dẳng khác .

Không nên dùng Intron A cho bệnh nhân viêm gan mạn có suy gan mất bù, cho bệnh nhân viêm gan tự miễn hay có tiền sử bệnh tự miễn hay những người đã được ức chế miễn dich để ghép các cơ quan bởi vì Intron A có thể làm bệnh gan trầm trọng hơn trên những bệnh nhân này.

Nhiễm độc gan dẫn đến tử vong rất hiếm gặp . Do đó nếu bệnh nhân có các bất thường chức năng gan trong quá trình điều tri với Intron A nên được theo dõi chặt chẽ và ngưng thuốc nếu các triệu chứng tiến triển nặng.

Không nên dùng Intron A cho bệnh nhân suy gan mất bù. Bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn với bằng chứng suy giảm chức năng tổng hợp của gan (như giảm albuưùne hay kéo dài thời gian prothrombine), nếu được điều tri bằng Intron A có thể tăng nguy cơ mất bù lâm sàng nếu có sự dao động của aminotransférase trong quá trình điều trị với.Intron A (xem phần Xét nghiệm). Nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích tri liệu khi chỉ định Intron A cho những bệnh nhân này.

Nên duy trì bổ sung đầy đủ nước cho bệnh nhân điều trị với Intron A vì chứng hạ huyết áp do tình trạng mất nước đã được quan sát thấy ở một số bệnh nhân . Việc bù nước có thể rất thiết yếu.

Bệnh nhân có tiền sử suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim và/hoặc có tiền sử hay đang bi loạn nhịp tim, nếu cần phải điều trị với Intron A, nên được theo dõi chặt chẽ. Bệnh nhân có các bất thuờng trước đó về tim và/hoặc đang trong giai đoạn ung thư tiến triển, nên làm điện tâm đồ trước khi dùng thuốc cũng như trong quá trình điều trị Chứng loạn nhịp tim (chủ yếu là loạn nhịp trên thất) thường đáp.ứng với các điều trị thông thường nhưng có thể đòi hỏi phải ngưng dùng Intron A.

Các bệnh thâm nhiễm phổi, viêm phổi bao gồm cả các bệnh có thể gây tử vong rất hiếm gặp trên bệnh nhân đuọc điều trị với Interferon alfa, trong đó bao gồm cả bệnh nhân điều tli bằng Intron A. Bệnh căn học vẫn chưa được xác định . Nếu bệnh nhân bị sốt, ho, khó thở hay các triệu chứng hô hấp khác, nên kiểm tra bằng X quang. Nếu X quang phổi cho thấy có thâm nhiễm hay nếu có bằng chứng suy chức năng phổi, bệnh nhân nên đuốc theo dõi cẩn thận và ngưng thuốc nếu có thể Trong khi ảnh hưởng này được bán cáo xảy ra thường xuyên hơn với bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn C/NANB được điều tri với Inter-feron alfa, nó cũng được báo cán xảy ra trên những bệnh nhân mắc các bệnh ung thư được điều tri với Interferon. Hơn nữa. các triệu chứng này đã được bán cáo xuất hiện thường hơn khi lnterferon alfa được dùng đồng thời với shosaikoto, một thảo dược có nguồn gốc từ Trung quốc

Bệnh nhân đã mắc bệnh tâm thần trước đó, đặc biệt là chứng trầm cảm hay tiền sử bệnh tâm thần nặng không nên điều tli bằng Intron A.

Nếu có các triệu chứng trầm trọng trên hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là chứng trầm cảm, nên ngưng điêu tri Intron A. Các tác động trên hệ thần kinh trung ương được biểu hiện với chứng trầm cảm, lú lẫn và những thay đổi tình trạng tâm thần đã được quan sát thấy trên một vài bệnh hân dùng Intron A và ý định tự tử cũng có thể xảy ra tuy nhiên rất hiếm. Các tác dụng ngoại ý này đã xảy ra trên bệnh nhân dùng Intron A với liều khuyến cáo cũng như với liều cao hơn . Vài bệnh nhân có thể hôn mê, nhất là những người già và điều tri liều cao. Những tác dụng này nói chung thường là có hồi phục, ở một vài bệnh nhân cần phải có đến 3 tuần để hồi phục hoàn toàn Rất hiếm khi xuất hiện cơn động kinh khi sử dụng liều cao Intron A.

Chứng xuất huyết võng mạc, tắc nghẽn động mạch hay tĩnh mạch với những điểm như nốt bông rất hiếm gặp trên bệnh nhân được điều tn với Interferon alfa, trong đó có thuốc tiêm Intron A (Interferon alfa-2b tái tổ hợp). Chưa giải thích được nguyên nhân bệnh căn của những hiện tượng này. Các tác dụng này có vẻ như xuất hiện sau vài tháng dùng thuốc, nhưng cũng được báo cáo xảy ra trong những khoảng thời gian điều trị ngắn hơn. Chứng tiểu đường hay cao huyết áp cũng xuất hiện trên một vài bệnh nhân. Bệnh nhân có những thay đổi thị lực và thị trường hay những triệu chứng ở mắt trong quá trình tiêu trị với Intron A nên được khám mắt.

Các dấu hiệu trên võng mạc gây bởi Intron A nên được phân biệt với các tai biến trên mắt trong các bệnh võng mạc do tiểu đường hay do cao huyết áp, do đó nên khám mắt cho bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hay cao huyết áp trước khi điều trị với Intron A.

Khi bệch nhân có rối loạn chức năng giáp, chỉ có thể bắt đầu hay tiếp tục điều trị với Intron A khi có thể duy trì nồng độ TSH ở mức độ bình thường bằng cách dùng thuốc. Việc ngưng điều trị với Intron A không làm hồi phục lại rối loạn chức năng giáp xảy ra trong quá trình trị liệu.

Do có các báo cáo về sự gia tăng bệnh vẩy nến đã có sẵn trước đó chỉ nên dùng Intron A cho bệnh nhân bi vẩy nến khi lợi ích tri liệu lớn hơn nguy cơ có thể gây ra.

Trên bệnh nhân bị sarcome Kaposi do AIDS, dùng nên dùng Intron A khi có sự hiện diện của các bệnh nội tạng đang tiến triển nhanh chóng. bệnh nhân dùng thuốc đồng thời với zidovudin gây ra giảm bạch cầu trung tính với tỉ lệ cao hớt so Với khi Chỉ dùng zidovudine đơn thuần. Tác dụng của Intron A khi kết hợp với những thuốc khác trong điều trị bệnh liên quan tới AIDS chưa rõ ràng.

Các xét nghiệm tác nhân trung hòa Interferon được thực hiện trên những mẫu huyết thanh của bệnh nhân được tiêm Intron A trong một vài thí nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Tỉ lệ trên lâm sàng của hoạt động trung hòa phát triển trên bệnh nhân ung thư được điều trị toàn thân là vào khoảng 3 %. Bệnh nhân viêm gan siêu vi NANB /C mạn tính được điều trị với liều 3 MIU ba lần mỗi tuần trong 6 tháng có tỉ lệ là 15 % mà không có tác động nào lên kết quả lâm sàng. Tác động trung hòa của Interferon trong huyết thanh được tìm thấy trong khoảng 1 % bệnh nhân tiêm Intron A vào trong sang thương để điều trị bệnh mồng gà Nồng độ của yếu tố trung hòa trong hầu hết các trường hợp đêu thấp và biểu hiện lâm sàng của hoạt động trung hòa này cũng không rõ. Sự phát triển của những kháng thể trung hòa chưa được chứng minh trên bệnh nhân được tiêm In-tron A vào trong sang thương trong điều trị carcinome tế bào nền hay trên bệnh nhân được tiêm Intron A trong bàng quang trong điều trị ung thư bàng quang.

Xét nghiệm : các xét nghiệm huyết học tiêu chuẩn và sinh hóa của máu (công thức máu, số lượng tiểu cầu, chất điện giải, các men gan, bao gồm ALT huyết thanh, bilirubine và albumine huyết thanh, protéine huyết thanh và créatinine huyết thanh) nên được thực hiện trên tất cả các bệnh nhân trước khi điều tri và có định kỳ trong quá trình điều trị với thuốc tiêm Intron A. Nồng độ TSH phải được giữ trong các giới hạn bình thường trước khi bắt đầu điều trị với Intron A. Bệnh nhân có những triệu chứng cho thấy có rối loạn chức năng giáp trong quá trình điều trị với Intron A nên được thăm khám chức năng giáp.  Trên bệnh nhân được điều trị viêm gan, phác đồ xét nghiệm khuyến cáo là vào tuần thứ 1 , 2, 4, 8, 12, 16 và mỗi tháng sau đó, trong suốt quá trình điều trị Nếu ALT tăng (gấp hai bình thường hay nhiều hơn) trong quá trình điều trị với Intron A, có thể tiếp tục dùng thuốc, trừ phi quan sát được những triệu chứng và dấu hiệu của suy gan. Khi ALT tăng, nên thực hiện các xét nghiệm chức năng gan như thời gian prothombine, ALT, pho-phatase kiềm, nồng độ albumine và bilirubine cách khoảng mỗi 2 tuần.

Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản : Interferon có thể làm giảm khả năng sinh sản. Trong những nghiên cứu về sử dụng Interferon trên động vật inh rường, người ta thấy có những bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt. Sự suy giảm nồng độ stradiol và progestérone đã được báo cáo xuất hiện ở phụ nữ được điều trị với Interferon bạch cẩu của người. Do đó, phụ nữ trong tuổi sinh đẻ những nên dùng Intron A trừ khi áp dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong thời gian điều trị.

Thận trọng khi dùng Intron A cho nam giới trong đổi sinh đẻ.

Dùng thuốc cho trẻ em : các liều lên đến 10 MIU/m2 được dùng một cách an toàn khi dùng cho trẻ em bị viêm gan siêu vi B mạn tính hoạt động. Tuy nhiên, hiệu lực của liệu pháp chưa được chứng minh. Nói chung, kinh nghiệm điều trị cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vẫn còn giới hạn và trong những trường hợp này, nên cân nhắc giữa lợi ích trị liệu với nguy cơ có thể xảy ra.

Chống chỉ định

Tiền sử tăng mẫn cảm đối với Interferon alfa-2b hay bất cứ thành phần nào của Intron A.

Phản ứng phụ

Dùng toàn thân :

Các phản ứng phụ được thấy nhiều nhất là sốt, mệt mỏi, nhức đầu và đau cơ. Các dấu hiệu sốt và mệt mỏi có liên quan đến liều dùng và được hồi phục sau 72 giờ tạm ngưng thuốc hoặc ngưng trị liệu

Các phản ứng phụ thường gặp là chuột rút, chán ăn và buồn nôn.

Các phản ứng phụ ít gặp hơn là ói mửa, tiêu chảy, đau khớp. suy nhược, buồn ngủ, chỏng mặt, rụng lông tóc, khô miệng, các triệu chứng giống như cúm (không đặc hiệu), đau lưng, trầm cảm, khó ở, đau nhức, vã mồ hôi , thay đổi vị giác, kích thích, mất ngủ, lẫn lộn, giảm tập trung và hạ huyết áp.

Các phản ứng phụ hiếm gặp là đau bụng, nổi ban, lo lắng, tai biến tại nơi tiêm, di cảm, herpes simplex, ngứa, đau mắt. lo lắng, chảy máu cam, ho, viêm họng, thâm nhiễm phổi, viêm phổi, giảm sáng suốt, sụt cân, phù mặt, khó thở, khó tiêu, tim đập nhanh, cao huyết áp, tăng cảm giác ngon miệng, giảm ớnh dục, giảm cảm giác, thay đổi vị giác, phân lỏng chảy máu lợi, bệnh thần kinh và bệnh đa dây thần kinh . Chứng cường hay nhược giáp cũng rất hiếm gặp. Nhiễm độc gan, bao gồm khả năng gây tử vong rất hiếm gặp (xem thêm mục Chú ý đề phòng).

Các phản ứng phụ về tim mạch, đặc biệt là lọan nhịp, thường có liên quan đến bệnh của hệ tim mạch đã có từ trước và tiền sử của việc điều trị độc tính trên tim. Bệnh cơ tim thóang qua và có hổi phục rất hiếm gặp ở những bệnh nhân không có bệnh tim trước đó

Những bất thường về xét nghiệm thường xảy ra khi dùng liều trên 10MIU/ngày bao gồm giảm bạch cầu hạt và bạch cầu: giảm nồng độ hémoglobine và số lượng tiểu cầu: tăng phos-phatase kiềm, lactate déhydrogénase (LDH) creatinine huyết thanh, urea nitrogene huyết thanh và nồng độ TSH, sự gia tăng nồng độ


|trang chủ|

2009 YBacsi.com | Thông tin trong ybacsi.com chỉ có tính chất tham khảo, không tự ý áp dụng. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng.